Cắm Trại


Cắm trại Ðội Chúng


I. Nguồn gốc trại:

Thời thượng cổ cuộc sống của loài người đóng khung trong một căn nhà nhỏ bé, chật hẹp mà trái lại được lồng vào khung cảnh bao la, hùng vĩ của trời cao, biển rộng, hay nơi đồng ruộng rừng sâu. Chính cuộc sống du mục này đã là một nguyên nhân khiến con người thích những gì phóng khoáng.

Khi cuộc sống tập thể của con người bắt đầu hoạt động trong phạm vi làng xóm, lúc người thanh niên khôn lớn và sau khi am tường võ nghệ, lúc đó người thanh niên bắt đầu đi vào cuộc đời của một hiệp sĩ, đem tài năng diệt kẻ tham ô, trộm cướp, chịu đựng gian khổ, nằm gai nếm mật để mong được toại chí. Thời gian đi như vậy ít nhất cũng vài tuần, những người này gặp nhau cùng với ý nguyện kết bạn với nhau và cùng sống bên nhau trong những ngày gian khổ. Cuộc sống hàng ngày càng chật vật họ càng giúp đỡ lẫn nhau, do đó tình thương yêu tha thiết giữa người và người cũng vì đó mà tăng lên. Ðời sống cao thượng của thiên nhiên đã mang lại cho họ nhiều trí tuệ, họ cần thắng ý nghĩ không cần bị đóng khung trong bốn bức tường hẹp.

Rồi với đà văn minh, với ý chí hợp quần, họ đã thành lập những xã hội cỏn con sống chung với những người cùng sở thích, tuy với thời gian quá ít nhưng họ vẫn cố gắng giúp đỡ lẫn nhau, sống một ngày gian khổ và thoát vát trong mỗi việc làm. Từ những sự kiện này, Trại đã có một khởi nguyên.

 

II. Ích lợi của trại:

Từ khởi nguyên như trên, ta thấy trại đã tỏ ra hữu ích về hai phương diện:

A. Ðối với đoàn thể: Ðời sống đã khiến con người thương yêu nhau trong những giờ khổ sở, tìm hiểu được tâm tình nhau trong những lúc gay go, nhờ đó tinh thần Ðội, Ðoàn mới có phần tăng trưởng.

B. Ðối với cá nhân: Trại là trường huấn luyện thanh thiếu niên về thể, trí, và đức dục vì tại chúng ta mới có những thú vui hồn nhiên trong sạch.

Ðời sống ở trại làm cho thân thể tráng kiện, tạo được một sức khỏe dẻo dai, chống đỡ được với sương gió, tay chân quen những trò chơi mạnh dạn, vượt núi băng rừng, sống giữa thiên nhiên các giác quan đều được đem ra tận dụng và kiểm nhận một cách dễ dàng. Cặp mắt được ngắm nhìn cảnh bao la, được quan sát hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, những điều mà chính mình chưa bao giờ thấy. Tai quen phân biệt những âm thanh, tiếng chim hót chiều chiều trên đồi núi làm cho họ nhận được là tiếng chim gì, tiếng xào xạc giữa rừng khô như có con gì đi lại... Mũi quen với những hương vị thiên nhiên, một làn gió thoảng qua mang theo một mùi vị, họ cũng biết nó lại từ đâu và do những gì phát khởi.

Ðời sống gian lao đem lại nhiều đức tính tự tin, nhẫn nại, bằng lòng chịu đựng trên đường đời, giá trị cần lao cũng được nâng cao, nỗ lực gắng công trong những giờ thủ công trại.

Ðời sống ở trại thật ích lợi và cao qúy. Nó làm cho người thanh niên phát triển mọi năng lực tiềm tàng mạnh nhất chưa có dịp phát triển, đời sống trại là đời sống của tự do, cao thượng và thanh liêm.

III. Dự trại:

A. Chuẩn bị:

Khi được lịnh đi trại, Ðội Chúng trưởng phải tập họp ngay Ðội Chúng mình để chuẩn bị cho ngày trại được chu đáo, phải cho biết thời gian và địa điểm trại (nếu cần phải nhờ anh chị Ðoàn trưởng xin phép). Thông tin đầy đủ, sau đó phải nhắc lại đồ dùng cá nhân mang theo và chia nhau mang những đồ dùng chung của Ðội Chúng.

B. Tại trại:

Ðến địa điểm trại phải cho họp ngay Ðội Chúng, đừng để các Ðội Chúng sinh đi tản mát; nhận được địa điểm đóng trại Ðội Chúng trưởng phải tìm hướng để dựng lều, nhưng trước khi bắt tay vào việc, Ðội Chúng trưởng phải đọc lại bảng phân công, nhắc lại hiệu còi, luật trại.

C. Bế mạc trại:

Lúc hạ lều cũng như lúc dựng trại, quanh khu vực trại, phải sạch sẽ, không được lưu lại một vết tích gì, đồ đạc mang theo cũng sắp đặt ngăn nắp, khi về trại cũng có cuộc kiểm thảo, phê bình để Ðội Chúng sinh có thể giải bày những thắc mắc, phải kiểm soát đồ dùng mang đi đừng để Ðội Chúng sinh thiệt thòi về vật chất.

Sau ngày trại, Ðội Chúng trưởng còn có bổn phận để ý coi chừng có Ðội Chúng sinh nào bị bệnh, bị quở mắng không, nếu có phải cho ban Huynh Trưởng biết để lo dàn xếp nếu sức mình không đủ lo tròn. 

IV. Tổ chức một trại đội chúng:

Dẫn Ðội Chúng đi trại, tất là ta đã nắm cả toàn Ðội, Chúng; Mọi việc làm của Ðội Chúng, người Ðội Chúng trưởng phải nhận lảnh trách nhiệm. Vì vậy tổ chức một trại Ðội Chúng, người Ðội Chúng trưởng phải có cấp bậc ít nhất là Trung Thiện, hoặc học hết chương trình Sơ Thiện, phải có đủ khôn ngoan và lanh lẹ, có như thế mới có đủ sức bảo đảm Ðội Chúng của mình.

Trại Ðội Chúng phải có sự đồng ý của toàn đội. Ðội Chúng trưởng phải xin phép Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng về nơi cắm trại. Trước khi đến một địa điểm, Ðội Chúng trưởng và phó phải đi quan sát địa điểm trước.

Chổ cắm trại gần nơi có nước trong lành, xa thị thành để khỏi bị làm ồn ào trể nãi mất giờ giấc của trại, nơi cắm trại phải là chổ rộng rãi, thoáng khí và gần đường tiếp tế lương thực.

Trại Ðội Chúng phải có mục đích hoặc gây thêm tinh thần, hoặc để thi chuyên môn. Trong buổi họp trước ngày trại phải phân chia công việc, trình bày kế hoạch và không quên kiểm điểm lần cuối.

Phải cho Ðội Chúng sinh có nhiều giờ nghỉ ngơi để ngày mai có sức khỏe tiếp tục. Ðừng để cho Ðội Chúng sinh phí sức trong cuộc vui nào dù nhỏ hay lớn. 

V. Ðồ dùng của trại:

A. Ðồ dùng của Ðội Chúng:
   1.Nên dùng đèn bão.
   2.Toile de tente, phải đủ để đóng và lót trại cho sạch sẽ
        không được lủng rách hay quá nhớp.
   3.Dụng cụ nấu ăn phải đầy đủ.
   4.Dụng cụ làm thủ công trại: rựa, cuốc, và dao.
   5.Hộp cứu thương: phải đầy đủ thuốc để cấp cứu khi đi đường và trong khi chơi.
   6.Linh tinh: ống thổi lửa, cờ truyền tin.

B. Ðồ dùng của trại sinh:
 
  1. Ðồ chuyên môn:
      a) Viết chì, nguyên tử
      b) Sổ tay
      c) Dây (tối thiểu 5 met)
      d) Còi, gậy
      e) Cờ, địa bàn
      f) Ðèn bấm

    2. Ðồ ngủ:
      a) Mền, túi ngủ
      b) Quần áo ngủ
      c) Vải lót
      d) Giấy báo (5 tờ)

   3. Ðồ vệ sinh:
      a) Bàn chải, kem đánh răng
      b) Ca hay ly
      c) Giấy vệ sinh

   4. Ðồ nấu ăn:
      a) Gạo và đồ ăn sáng
      b) Gia vị
      c) Chén, đũa, nĩa, muỗng
      d) Nồi, xoong để nấu, rổ, muỗng lớn
      e) Dao nhỏ, diêm, củi, thùng xách nước, ấm nước

    5. Một cái trại:
      a) Cổng trại: Giản dị nhưng hợp nhãn
      b) Bếp trại: Tối thiểu phải hai bếp. Bếp trại phải đặt nơi khuất gió và
           dưới gió đối với liều (để tránh khói vào và tàn bay khỏi cháy lều).
      c) Nơi đặt bếp phải sạch sẽ và người không phận sự không lai vãng
      d) Ðường mương: Thoát nước cho mau lẹ và không tạo thành vũng.
      e) Hố rác: Phải đào gần bếp.

VI. Những đặc tính của trại:

- Ðạo: Từ địa điểm, đồ dùng cho đến hình thức trại sinh
- Ðạo vị: Thể hiện tinh thần của người con Phật
- Ðầy đủ: Từ đồ dùng, giờ nghĩ cho đến thủ công trại
- Sạch sẽ trong toàn khu trại
- Tươi: Tô điểm trại bằng tiếng hát giọng cười
- Hoặc không ai được nghĩ hay chơi trong khi mọi người đều làm
- Lanh: Tháo vác, lanh lẹ trong mọi công việc
- Khỏe: Không thiếu ngủ, thiếu ăn, uống, quá mệt, hao tốn thì giờ
- Phải có lợi: Về hiểu biết, sức khỏe, tình thân ái, tình đồng đội

Phải làm việc thiện: Ðó là phương tiện để làm tăng niềm vui cho kẻ khác.









[ Quay lại ]


96273168
Page Generation: 0.11 Giây