Cấp Cứu



I. BẤT TỈNH

   A. Bịnh trạng và nguyên nhân:

Người bị bất tỉnh thường không cử động, mặt tái nhợt hẳn, mạch đập nhẹ, sở dĩ bất tỉnh là do các nguyên nhân sau:
- Bị đau quá - Ngạt hơi
- Sự sợ hãi - Hít nhiều thán khí, hơi độc
- Mệt - Bị điện giật
- Ăn không tiêu - Bị chảy máu
- Bị thắt cổ - Say nắng
- Bị dìm xuống nước - Vết thương ở đầu

   B. Cấp cứu:

Khi cấp cứu nên để nạn nhân nằm dài, đầu thấp hơn chân, cởi bỏ bớt áo quần hoặc tất cả cái gì làm máu bớt lưu thông, bắt mọi người đứng ra xa và nếu tiện cho ngửi chút Ether hay dấm. Không nên đổ chất lỏng vào miệng người bất tỉnh, vì sẽ làm người đó ngộp thở. Gở bỏ răng giả, kẹo cao su, hoặc vật khác trong miệng có thể làm ngạt thở nạn nhân.

Nếu nạn nhân nằm không tỉnh, ta phải làm các phương pháp hô hấp nhân tạo; Syhester, Seherfer, Nelson, miệng với miệng, phải kiên nhẫn, chớ bao giờ nản lòng. Có khi ta vô tình để người đó chết mặc dù còn cứu đuợc.

 II. XUẤT HUYẾT:

    A. Nguyên nhân và bịnh trạng

Máu chia thành hai loại, đỏ và đen. Ở mạch đỏ chảy ra, sắc máu hồng tươi và vạch thành tia như bơm. Trái lại ở mạch đen máu đỏ sẩm gần như đen và khi chảy thi hay loang ra. 

Có hai loại xuất huyết: Xuất huyết trong và xuất huyết ngoài.

-Xuất huyết ngoài trông tuy sợ nhưng rất ít nguy hiểm và có thể ngăn ngừa đuợc.

-Xuất huyết trong người: Mạch máu bị vỡ ở bên trong rất nguy hiểm, có thể nạn nhân bị thương nặng ở bụng vỡ gan, hay vỡ lá lách. Bệnh nhân thấy khát nước, người trắng bạch, mệt lả, mồ hôi lạnh toát ra, mạch chạy nhanh và yếu.

    B. Cách cứu chữa:

-Xuất huyết ngoài: thấy máu chảy điều cần nhất là làm cho máu đông lại, nếu nạn nhân mệt và mất nhiều máu, phải ủ cho ấm, cho uống nước nóng, tiêm thuốc cho khỏe và nếu cần phải truyền máu.

-Xuất huyết trong: trường hợp bất khả kháng đặt nạn nhân nằm im một chổ, ủ cho ấm rồi lập tức đem đi bệnh viện.

III. PHỎNG:

    A. Nguyên nhân bệnh trạng

Những vật lỏng sinh ra do nhiệt độ quá cao đối với da thịt con người hay do nhiễm chất hoá học. Có hai trường hợp phỏng:

-Phỏng nhẹ: Chiếm diện tích nhỏ một phần trên mặt da

-Phỏng nặng: Chiếm diện tích 30% trở lên trên mặt da, da phồng lên hoặc cháy thành than.

    B. Cách cứu chữa:

- Phỏng nhẹ: cần được che đậy bằng băng khô hay băng cứu thương nếu có sẵn. Nếu không cứ nên để nguyên vết phỏng.

- Phỏng nặng: phải tránh sự làm độc và kích súc. Băng với băng khô như thường. Không nên sờ mó vào nạn nhân với bất cứ thứ gì. Phủ quần áo lên vết phỏng, cố gở những mảnh vải dính vào da, gắng lau sạch vết phỏng, chọc thủng những chổ phỏng cho chảy ra hoặc thoa Vaseline hay Pomade lên trên vết phỏng.

- Tránh sự kích xúc bằng cách đê đầu và vai thấp hơn phần còn lại của cơ thể và bù đắp cho cơ thể các chất muối và nước.

- Nếu nạn nhân còn tỉnh, không nôn mửa và không bị thương cho uống nước mát hay lạnh trong có hoà lẫn muối. Không nên dùng nước ấm có thể gây cho nạn nhân mửa.

IV. BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG:

    A. Mục đích

Giử gìn vết thương khỏi đau vì sự va chạm bên ngòai và chận vi trùng khỏi lọt vào thương tích.

    B. Săn sóc:

Rửa vết thương bằng nước nấu chín hay alcool, lấy vải mỏng đả sát trùng để thấm nước rửa. Cũng có thể rửa với nước đa canh (liqueur de dakin), nưóc alilour, nước oxygenee, thuốc tím.

    C. Khử trùng:

Thuốc đỏ với vết thương cạn, thuốc sulfamide với vết thương sâu.

    D. Cách băng bó:

- Chọn băng: Tuỳ theo vết thương lớn nhỏ, vị trí mà chọn băng bông, băng doris bằng vải.
- Cách cầm băng doris: một tay cầm đầu băng và tay kia cầm cuộn băng và mở cuộn băng bằng ngón tay cái.
- Cường độ băng: Khi băng bó tay phải nhẹ nhàng nếu làm mạnh nạn nhân sẽ đau nhiều.
- Mở đầu băng: Ðể chừa đầu băng x và xếp lại được chắc bởi vòng băng thứ nhì.
- Các loại vòng băng:
  * Vòng thưa
  * Vòng xoắn dày
  * Vòng rẽ quạt
  * Vòng số 8
  * Vòng xấp

    Ð. Nối băng:

- Bằng kim băng tiện và chắc chắn
- Bằng nối chồng lên nhau.

    E. Kết băng:

- Băng hai dãi
- Băng ô một dãi
- Băng kim









[ Quay lại ]


94253100
Page Generation: 0.07 Giây